Đăng nhập   |   Đăng ký

Đánh giá giảm nghèo Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014

Chương I : Cơ sở lý thuyết 1 - Về nghèo khổ 1.1 - Khái niệm Phạm trù nghèo khổ có thể hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Nếu theo nghĩa hẹp thì nghèo khổ được hiểu là sự thiếu thốn các điều khiện thiết yếu của cuộc sống. Tuy vậy, nghèo khổ cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn từ khía cạnh về phát triển toàn diện con người, tức là nghèo khổ xét theo góc độ là việc loại bỏ các cơ hội và sự lựa chọn cơ bản nhát cho sự phát triển toàn diện con người. Đối với các nhà hoạch định chính sách, sự nghèo khổ về khả năng lựa chọn và cơ hội phát triển có ý nghĩa hơn nghèo khổ về thu nhập, bởi vì điều đó phản ánh nguyên nhân của nghèo khổ vật chất và trực tiếp ảnh hưởng đến chiến lược hành động nhằm cải thiện các cơ hội cho mọi người. Việc nhận thức sự thiếu thốn về khả năng lựa chọn và cơ hội gợi ý rằng cần phải giải quyết vấn đề nghèo khổ không chỉ ở khía cạnh thu nhập. * Nghèo khổ vật chất: là hiện tượng một người hoặc một nhóm người không được hoặc ko đủ khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu về vật chất cho sự phát triển của con người. Nhu cầu vật chất tối thiểu: theo mức xã hội chấp nhận và tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của đất nước. * Nghèo khổ con người (nghèo khổ tổng hợp, nghèo khổ đa chiều): là hiện tượng một người hoặc một nhóm người không được hoặc không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho sự phát triển của con người. Khác với quan niệm nghèo khổ vật chất, nghèo khổ con người đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được”. 1.2 - Các thước đo nghèo khổ a) Các chỉ tiêu đo nghèo khổ vật chất Mức và tỷ lệ nghèo khổ (chỉ số và tỷ lệ đếm đầu): đây là tiêu chí phản ánh rõ nhất, tổng quát nhất tình trạng nghèo khổ và cũng là phương pháp đo lường đơn giản nhất. Mức nghèo khổ (chỉ số đếm đầu - HC) được xác định trên cơ sở đếm đầu những người sông dưới chuẩn nghèo, tức là những cá nhân hoặc hộ gia đình (i) có mức thu nhập (yi) dưới mức chỉ tiêu tối thiểu (C). Còn tỷ lệ đếm đầu (HCR) sẽ là: HCR = HC/n, trong đó n là tổng dân số Về mặt ý nghĩa phản ánh, chỉ tiêu trên cho chúng ta kết luận về quy mô, phạm vi nghèo khổ trong sự so sánh với tổng dân số của quốc gia hay địa phương. Tuy vậy, trên thực tê, tình trạng nghèo khổ lại vô cùng đa dạng. Cùng là những người sống dưới ngưỡng nghèo, nhung có những người nằm ngay sát chuẩn nghèo, có những người nằm dưới chuẩn nghèo rất xa, hay tỷ lệ người sống tại các điểm dưới chuẩn nghèo cũng không giống nhau. Do đó nếu dùng chỉ số và tỷ lệ đếm đầu sẽ không đưa ra những chính sách thích hợp đối với từng nhóm người với các mức độ nghèo khổ vật chất khác nhau, nó có thể theo hướng có lợi đối với những người sồng gần chuẩn nghèo và lại không thuận cho những người có múc sống thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo , mà đây mới là những đối tượng cần sự hỗ trợ nhiều hơn. Vì vậy, cần phải bổ sung thêm công cụ đo lường khác đầy đủ hơn. Tỷ số khoảng cách nghèo và tỷ số khoảng cách thu nhập. Đây là một công cụ đo lường nhằm phần nào bù đắp được sự thiên lệch nói trên, có tác dụng xem xét mữ độ trầm trọng của nghèo khổ. Tỷ số khoảng cách nghèo được định nghĩa là tỷ lệ giữa thu nhập trung bình cần thiết để tất cả người nghèo đạt chuẩn nghèo chia cho thu nhập trung bình toàn xã hội. Tỷ số khoảng cách nghèo (PGR) được tính theo công thức: PGR = Ʃ(C - yi)/n×m Trong đó m là thu nhập trung bình của toàn xã hội và i chỉ tính đối với những người có thu nhập (yi) không học hết năm năm và trẻ em không được đến trường; phương diện chất lượng cuộc sống, bao gồm 6 thành phần: tình trạng không được sử dụng điện, nước sạch, nhà vệ sinh, nhà cửa tồi tàn, sử dụng nguyên liệu đun nấu bẩn, và không có phương tiện đi lại tối thiểu. Các kết quả thành phần nhận được thông qua việc thực hiện các cuộc điều tra mẫu các hộ gia đình, từng thành viên trong mỗi họ gia đình trong mẫu đều được điều tra. Tính hữu ích của HPI may MPI hiện nay đã được khẳng định rõ trên góc độ hoạch định chính sách của nhà nước của các nước đang phát triển: +) HPI,MPI cung cấp một sự đo lường về nghèo khổ nhân văn của một quốc gia, nó cho phép các nước xác định được tại thời điểm tính toán, tình trạng nghèo khổ xét theo khía cạnh nhân văn ở mức độ như thế nào, có bao nhiêu phần trăm dân số (theo tính toán này kết quả nhận được từ 0% đến 100%) phải đối mặt với sự nghèo khổ theo góc độ phát triển con người?nếu HPI,MPI càng lớn chứng tỏ nguy cơ nghèo khổ con người càng cao. Ví dụ HPI nhận được là 25%, điều đó có nghĩa là trung bình 25% dân số của quốc gia này phải đối mặt với sự thiếu thốn, họ phải mất đi nhiều quyền tối thiểu trong cuốc sống của họ. Dựa vào những con số này, nhà nước sẽ tìm ra các phương sách để làm thế nào lấy lại những gì người nghèo bị tước đoạt mất trong cuộc sống. +) Là công cụ lập kế hoạch trong việc xác đinh các khu vực nghèo khổ nhất trong phạm vi một quốc gia. HPI,MPI có thể được sử dụng để xác định những yếu tố bị tác động nhiều nhất đến sự nghèo khổ. Chúng ta có thể nhận biết được sự nghèo khổ cong người qua các chỉ số rời rạc, như tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ nghèo khổ thu nhập v.v... Nhưng HPI,MPI giúp cho việc phân hạng trên phạm vi tổng hợp các khía cạnh cơ bản để từ đó đề cập đến các mục tiêu giảm nghèo đói tổng hợp, toàn diện hơn, cũng như tập trung được vào các trọng điểm ưu tiên đúng hơn. +) Là công cụ nghiên cứu hữu hiệu. HPI,MPI cũng giống như HDI được sử dụng, đặc biệt là khi người làm công tác nghiên cứu muốn có những chỉ số tổng hợp về sự phát triển. Trên cơ sở ngiên cứu quan niệm về nghèo khổ đa chiều và sự hoàn thiện nội dung của nó, các nhà nghiên cứu có thể tìm cách để bổ sung thêm các yếu tố trong chỉ số HPI,MPI nhằm tăng cường tác dụng phản ánh của chỉ tiêu này, ví dụ như, bổ sung chỉ tiêu thát nghiệp, hay các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống, sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thêm những căn cứ để tìm đến những giải pháp đầy đủ hơn. 1.3 - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo a) Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo vừa phức tạp vừa đa dạng, hiểu được mối quan hệ này và những yếu tố xác định mối quan hệ đó sẽ là mấu chốt trong xây dựng chiến lược giảm nghèo thành công. Nếu có thể chỉ ra được rằng tăng trưởng kinh tế nhanh hơn bao giờ cũng đi kèm giảm nghèo nhanh, do hiệu ứng “lan tỏa”, thì chiến lược giảm nghèo cần tập trung vào việc đạt tăng trưởng nhanh hơn. Nhưng nếu điều đó không nhất thiết là đúng thì việc theo đổi tăng trưởng phải đi kèm với nỗ lực đạt được tăng trưởng vì người nghèo thông qua việc tái phân bố thu nhập và tài sản trong nền kinh tế. Một số những nghiên cứu cố gắng phân tích quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỉ lệ nghèo giữa các quốc gia qua các thời kỳ đã chỉ ra rằng: trung bình, cứ tăng một điểm phần trăm tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người thì tỉ lệ nghèo có thể giảm được tới 2%. Tuy nhiên bất bình đẳng lại không diện ra theo một xu hướng nhất định, một số quốc gia có tốc độ giảm nghèo hạn chế trong khi có thành tích tăng trưởng kinh tế khả quan, ngược lại một số quốc gia có tốc độ giảm nghèo cao trong khi tăng trưởng kinh tế là tương đối thấp. Số liệu thực tế ở châu Á về mối quan hệ này đã cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã tác động tích cực đến tỉ lệ nghèo. Trong những năm 1990, Các quốc gia đông á đạt được tốc độ tăng trưởng cao là 6,4% và tỉ lệ nghèo đối giảm được với tốc độ là 6,8%; trong khi các tốc độ này ở các quốc gia Nam Á lần lượt là 3,3% và 2,4%. Nếu tính chung cả khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 1 điểm phần trăm thì nghèo đối chỉ giảm được 0,9%. Ngược lại, giảm nghèo cũng có tác động đến tăng trưởng kinh tế, điều này được thể hiện thông qua một số những khía cạnh nhu sau: Giảm nghèo đóng vai trò như một bộ phận của một cán cân điều tiết các hoạt động đến tăng trưởng, Về phía người nghèo, do thu nhập và mức sống thấp nên chế độ dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe và giáo dục kém. Điều này làm giảm cơ hội tham gia hoạt động kinh tế và năng suất lao động của họ, và vì thế trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới quá trình tăng trưởng. Giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động mà phải tạo ra dộng lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động vươn lên tự thoát nghèo. Giảm nghèo không đơn thuần chỉ là sự trợ giúp một chiều từ tăng trưởng kinh tế đối với những đối tượng khó khăn, mà còn là nhân tố quan trọng tạ ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và đảm bảo sự ổn định cho giai đoạn “cất cánh”. Do đó, giảm nghèo không những là một mục tiêu của tăng trưởng, cả trên góc độ xã hội và kinh tế, đồng thời cũng là một điều kiện tiền đề cho tăng trưởng nhanh và bề vững. Tóm lại, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo là hai phạm trù khác nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Do vậy, khi xây dựng dịnh hướng phát triển cho mỗi thời kì cụ thểcần có sự kết hợp đúng đắn giữa vấn đề tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cần thực hiện đồng thời hoặc lồng ghép với công tác giảm nghèo. Sự kết hợp ngay từ đầu giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết tốt vấn đề giảm nghèo là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững b) Các trường hợp tăng trưởng không làm cho giảm nghèo nhanh hơn * Thành quả của tăng trưởng kinh tế không được tái phân phối cho người nghèo. Thực tế cho thấy, nếu nhà nước tập trung quá lớn các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, kết quả của tăng trưởng lại được sử dụng cho tái đầu tư tạo tăng trưởng nhanh, đặc biệt là tập trung nguồn lực đầuu tư ở những vùng trọng điểm, những ngành mũi nhọn, nhằm thúc đảy tăng trưởng nhanh mà thiếu quan tâm đến những vùng khó khăn hơn thì sẽ dẫn đến sự phát triển mất cân đối, người nghèo không được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng, điều đó còn dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo sẽ diễn ra mạnh hơn. * Các mô hình tăng trưởng không hướng tới người nghèo. Các mô hình tăng trưởng kinh tế nhanh nếu không tạo điều kiện để thu hút người nghèo tham gia thì người nghèo không được hưởng lợi trực tiếp từ kết quả tăng trưởng và tình trạng nghèo vẫn khồn được cải thiện. Cụ thể: (i) Thực tế ở nhiều nước đã cho thấy, phần lớn người nghèo đều là những người công nhân là thuê theo giờ, lương thấp và tham gia vào công đoạn sản xuất ít hiệu quả nhất trong chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa, lại thường xuyên làm việc trong những môi trường độc hại. Điều này làm cho họ khó có thể vượt ra khỏi tình trạng nghèo khổ trong khi tăng trưởng vẫn cứ nhanh; (ii) Tăng trưởng nhanh nhưng diễn ra ở những ngành, lĩnh vực ít tạo ra công ăn việc làm, thì dù có tăng trưởng cũng sẽ không góp phần, hoặc chỉ góp phần rất nhỏ vào việc giảm tình trạng nghèo khổ; (iii) đẩy mạnh xuất khẩu, nhìn chung có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, nhưng việc đẩy mạnh xuất khẩu vào một số ngành không kích thích tăng trưởng việc làm nhanh hơn như xuất khẩu sản phẩm là tài nguyên khoáng sản của đất nước, sản phẩm công nghiệp chế tạo đòi hỏi công nghệ và vốn cao, thì mặc dù tăng trưởng thu nhập cao nhưng thu nhập người nghèo cũng không được cải thiện. c) tiêu chí đáng giá tác động của tăng trưởng đến giảm nghèo (1) Động thái thay đổi tốc độ của tăng trưởng thu nhập bình quân và tỷ lệ nghèo Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thay đổi nghèo được thể hiện trước hết qua mối tương quan giữa tốc đô tăng trưởng thu nhập đầu người và thay đổi tỷ lệ nghèo. Vi thế, việc so sánh giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế (tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người) với tốc độ giảm nghèo (sự thay đổi trong tỷ lệ hộ nghèo) sẽ cho phép cso nhận xét mang tính chung nhất về tác động của tăng trưởng đến giảm nghèo như thế nào: (i) Nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người nhỏ hơn tốc độ giảm nghèo thì tăng trưởng là “vì người nghèo”, tăng trưởng có lợi hơn cho người nghèo, tức là tác động đồng thuận tăng trưởng kinh tế tới giảm nghèo mạnh; (ii) Nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người lớn hơn tốc độ giảm nghèo thì tăng trưởng kinh tế có làm cho tỷ lệ nghèo giảm nhưng ít hơn, tăng trưởng có lợi hơn cho người giàu; (iii) Nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người bằng tốc độ giảm nghèo thì tăng trưởng kinh tế có tắc động đến giảm nghèo ở mức trung bình, thu nhập được phân phối đồng đều cho cả người giàu lẫn người nghèo; (iv) Nếu tỷ lê nghèo tăng, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp thì tăng trưởng kinh tế đã “bần cùng hóa” thêm người nghèo.

Thể loại:

Luận văn - Đề tài tham khảo -

 Luận văn - Đề tài CĐ - ĐH


Tag: Luận văn - Tài liệu - Tài liệu học tập
OCX     24     Lê Hồng Khoa     20/04/2015     2.142     72

Đánh giá của bạn ( 4 điểm/1 lượt )
 
(Nếu không download được, vui lòng click vào đây để xem hướng dẫn)
Trình duyệt firefox:
Bước 1: Hiện thông báo như hình dưới:

Bước 2: Chọn Options->Allow pop-ups for tailieuhoctap.vn(Vùng khoanh đỏ)
Trình duyệt chrome:
Bước 1:Hiện thông báo như hình dưới:(Vùng mũi tên đỏ)

Bước 2:Chọn vùng mũi tên màu đỏ -> Hoàn tât
Trình duyệt IE 10:
Bước 1:Hiện thông báo như hình dưới:

Bước 2:
Chọn Options->Allow once(Vùng khoanh đỏ)
Trình duyệt IE 8:
Bước 1:Hiện thông báo như hình dưới:

Bước 2:
Chọn Options->Allow once(Vùng khoanh đỏ)
Đánh giá giảm nghèo Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014Đánh giá giảm nghèo Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014Đánh giá giảm nghèo Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014Đánh giá giảm nghèo Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014Đánh giá giảm nghèo Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014
Tải về để xem đầy đủ hơn

Có liên quanCùng thể loại