Đăng nhập   |   Đăng ký

Tiểu luận xã hội học về Xã hội hóa đô thị

Lời mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Ban đầu, Xã hội học Đô thị nghiên cứu hết sức rộng, theo A. Boskoff: "Gia đình và hôn nhân, giáo dục trẻ em, tội phạm, đặc biệt là tội phạm trẻ em, sự di cư, vấn đề chủng tộc, người gia, sức khoẻ tâm lý, giai cấp xã hội, tôn giáo học vấn và các xu hướng trong các đời sống xã hội-đó là phạm vi các vấn đề xã hội học đô thị nghiên cứu".

Các vấn đề nghiên cứu ở đây chiếm đa số các vấn đề xã hội. Điều này cho thấy khi xã hội phát triển càng cao thì nảy sinh càng nhiều vấn đề phức tạp hay nói xã hội học đô thị ra đời trong bối cảnh xã hội nông thôn đang thay đổi nhanh chóng, các kiểu quan hệ truyền thống bị thay đổi trong xã hội hiện đại. Quá trình đô thị hóa: xu hướng đô thị hóa gia tăng, khu vực nông thôn ngày càng thu hẹp, khu vực đô thị ngày càng mở rộng kéo theo sự tích tụ, tập trung dân cư, mật độ dân số cao, rất nhiều hiện tượng xã hội phức tạp khả năng kiểm soát của xã hội đối với mỗi hành vi của một cá nhân là khăng khít, vì quan hệ xã hội ở đô thị là quan hệ xã hội mang tính chất giao tiếp và đa dạng. Quá trình đô thị hóa làm thay đổi các nguy cơ xã hội, các tệ nạn xã hội. Cơ cấu xã hội ở đô thị là quan hệ mang giao tiếp và đa dạng, phức tạp và đan xen nhau. Đô thị có rất nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội. Phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ở đô thị diễn ra rát mạnh mẽ. Ở đô thị có người giàu nhất mà cũng có người nghèo nhất. Lối sống đô thị là lối sống rất phức tạp, vừa có chung của những người ở đô thị, vừa có cái riêng của từng giai cấp xã hội. Lối sống đô thị bao giờ đi trước dẫn dắt lối sống ở nông thôn. Lối sống đô thị nhanh nhạy trong việc tiếp nhận các dòng văn hóa khác nhau Trước thời cơ và vận hội, nguy cơ và thách thức đan xen nhau thì việc tìm hiểu nhằm nâng cao nhận thức về những biến đổi xã hội hóa đô thị ở Việt Nam là việc làm mang tính cấp thiết, có tầm quan trọng đặc biệt đối với nhận thức và hành động của mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay. Chính vì thế nhóm đã quyết tâm lựa chọn đề tài này để tham gia nghiên cứu. 2. Đối tượng nghiên cứu - Nguồn gốc, bản chất, và các quy luật phát triển của xã hội học đô thị - Các vấn đề giáo dục trẻ em, gia đình và hôn nhân, tội phạm, sự di cư, vấn đề chủng tộc, giai cấp và xã hội, tôn giáo, học vấn,.. 3. Phạm vi nghiên cứu 3.1. Không gian - Trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,.. - Trên phạm vi các đô thị trên cả nước Việt Nam 3.2. Thời gian - Thời kì trung đại, gia đoạn phong kiến và thuộc địa. - Thời kì hiện đại, Miền Bắc bắt đầu từ năm 1954 và từ sau 1975 trên cả nước , sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hoàn thành thắng lợi, đất nước hoàn toàn thống nhất đi lên CNXH. 4. Phương pháp nghiên cứu + Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phân tích, đánh giá + Sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu Nội dung 1. Khái niệm, lịch sử hình thành và đối tượng nghiên cứu xã hội học đô thị. Xã hội học đô thị là một nhánh của xã hội học chuyên biệt, nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất và các quy luật phát triển và hoạt động của xã hội học 1.1. Khái niệm 1.1.1. Khái niệm đô thị Đô thị là một điểm dân cư hiện đại, là nơi tập trung những dân cư có những hoạt động phi nông nghiệp (chiếm 80%), thực hiện các chức năng sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ v à là nơi tập trung chức năng quản lý hành chính của một địa phương. Đó còn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của một v ùng lãnh thổ nhất định Như vậy, đô thị có nét nổi bật là tập trung những dân cư có các hoạt động phi nông nghiệp (chiếm từ 70 -80%). Họ là những người thực hiện những chức năng khác nhau như sản xuất trong nhà máy, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong các hộ gia đ ình, hoạt động giao thông vận tải dưới các hình thức khác nhau như xích lô, xe bò, lái xe hơi, xe ôm và các dịch vụ thuê mướn… Chỉ xét riêng các yếu tố ấy cũng có thể thấy đô thị hết sức đa dạng và phức tạp. 1.1.2. Khái niệm xã hội học đô thị Là một nhánh của xã hội học chuyên biệt, xã hội học đô thị nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất và các quy luật phát triển và hoạt động của đô thị. 1.2. Lịch sử hình thành xã hội học đô thị Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, công nghiệp hoá và quá trình đô thị hoá mạnh mẽ đã làm nảy sinh vô số những vấn đề xã hội tiêu cực và phức tạp tại các đô thị và vì vậy đã thu hút sự chú ý của các nhà xã hội học của Phương Tây. Tác phẩm "Đô thị" xuất bản năm 1905, Max Weber đã chứng minh rằng cơ cấu xã hội của đô thị tạo khả năng cho sự phát triển của cá nhân và là công cụ cho sự thay đổi của lịch sử và Weber đã xem xét đô thị như là một thiết chế xã hội. Trong công trình "Thành phố lớn và cuộc sống tinh thần" (Metropolis and mental life) xuất bản năm 1903, Georg Simmel đã chú ý vào mô hình tương tác ở đô thị với tính chất chức năng và phi biểu cảm của các mối quan hệ và sự tiếp xúc ở đô thị. Cũng như Weber, Simmel cho rằng cá nhân trong đời sống đô thị không có bản sắc riêng. Những năm 20, Châu Âu và Bắc Mỹ hình thành môn học Xã hội học về đời sống đô thị (sociology of urban life), hay xã hội học đô thị (urban sociology). Tại các nước phát triển (Anh, Pháp, Đức, Mỹ) có nhiều trường và viện nghiên cứu, khảo sát, công bố nhiều ấn bản về đề tài xã hội học đô thị. Hội nghị đầu tiên của xã hội học đô thị được nhóm họp lần đầu tiên vào năm 1953 tại Đại học Columbia (Mỹ), với sự tham gia của nhiều nhà xã hội học trên thế giới. Đến năm 1956, một hội thảo khoa học được tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) với chủ đề "Vấn đề phát triển đô thị, các nhân tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới đời sống đô thị các nước Châu Á" đã nói lên tầm quan trọng của xã hội học đô thị trong quá trình phát triển nhanh chóng của xã hội. 1.3. Đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học đô thị - Vị trí của đô thị trong xã hội, trong hệ thống cư trú. Quá trình phát triển đô thị trong các chế độ xã hội đã qua. Những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng tới sự phát triển của đô thị, quá trình đô thị hóa cũng như bản chất xã hội của quá trình đô thị hóa, đặc biệt nghiên cứu về đặc điểm cũng như các vấn đề đô thị hóa trong giai đoạn công nghiệp phát triển mạnh mẽ như ngày nay. - Về đặc điểm lối sống văn hóa và các vấn đề của cộng đồng dân cư ở đô thị cũng như môi trường đô thị. Các vấn đề, các hiện tượng xã hội nảy sinh trên cơ sở lối sống, giao tiếp của xã hội đô thị cũng như trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, trong đời sống gia đình đô thị. - Về quá trình quản lý đô thị, các yếu tố xã hội cũng như hậu quả của quá trình di dân, sự hoạt động của người dân thành phố. Sự phân loại các thành phố cũng như vai trò của các thành phố lớn trong hệ thống đô thị của xã hội. - Về cơ cấu xã hội cũng như các vấn đề nảy sinh và sự chuyển biến xã hội ở đô thị. Xem xét hàng loạt mối quan hệ tạo nên cơ cấu xã hội của đời sống đô thị như mối quan hệ giữa các lĩnh vực hoạt động cơ bản của đời sống xã hội ở đô thị (công nghiệp, tiểu thụ công nghiệp, dịch vụ,...) hoặc mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội của đô thị (công nhân, tư sản, trí thức,...) hay mối quan hệ giữa khu vực dân cư trong thành phố (khu vực người da đen, người Việt Nam, người Trung Quốc,...). 2. Quá trình hình thành,phát triển và vấn đề quản lí đô thị ở Việt Nam 2.1. Quá trình hình thành và phát triển đô thị ở Việt Nam Ở Việt Nam và một số nước đang phát triển quá trình đô thị hoá diễn ra tương tự như nhiều nước phát triển “đô thị hoá quá tải”, song Việt Nam có những đặc thù riêng. Có thể điểm qua một cách sơ lược quá trình đô thị hoá ở Việt Nam bằng các mốc lịch sử nổi bật sau đây: 2.1.1. Thời kỳ phong kiến (từ năm 1858 trở về trước): + Các thành thị Việt Nam thời kỳ này chủ yếu là các thành thị hành chính và thương mại. Nó được hình thành trên cơ sở những thành luỹ lâu đài của vua chúa phong kiến trên những khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho giao lưu buôn bán. + Về kinh tế, trong khuôn khổ nền kinh tế tiểu nông đóng kín. + Về chính trị - xã hội,quan hệ cộng đồng làng, xã chiếm ưu thế tuyệt đối. Thành thị lúc này không có vai trò và địa vị kinh tế đối với nông thôn và xã hội nói chung. + Tóm lại, đô thị hoá dưới thời phong kiến là sự hoà đồng của thành thị vào nông thôn. 2.1.2. Thời kỳ thuộc địa (1858-1954): + Sau khi thiết lập chính quyền đô hộ, thực dân Pháp cho xây dựng các con đường giao thông quan trọng, các th ành phố mới, các thương cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn cũng được mở rộng ra cho tàu bè ra vào buôn bán. Vì vậy các đô thị Việt Nam cũng từ đó mà phát triển lên. + Song chính sách thuộc địa nói chung chủ yếu nhằm vơ vét tài nguyên thiên nhiên và bóc lột nhân công rẻ mạt. Để khai thác thuộc địa được dễ dàng, thực dân Pháp đã dùng chính sách “chia để trị”. + Vì vậy, các tổ chức huyện tỉnh lúc đó quy mô nhỏ, mạng l ưới đô thị hành chính nhỏ “sở lỵ” kèm đồn trú được hình thành rải khắp lãnh thổ đất nước, cơ sở hạ tầng nghèo và kém phát triển. + Các thành thị thời kỳ này chưa thu hút được sự di dân. Như vậy, thực chất thành thị của Việt Nam thời kỳ thuộc địa n ày chủ yếu là giữ vai trò trung tâm hành chính, n ơi đồn trú của bộ máy chính quyền thực dân phong kiến, là trung tâm thương mại và là trạm cuối cùng để vơ vét tài nguyên mang về chính quốc của thực dân Pháp. 2.1.3. Thời kỳ 1955-1975: + Đây là giai đoạn đặc biệt trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam. Thời kỳ này, đất nước chia làm hai miền với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Các đô thị ở mỗi miền cũng vì thế mà đều có nét đặc trưng riêng. Tại Miền Bắc: * Tiến hành công nghiệp hoá, các thành phố ngày càng được củng cố và phát triển. Các trung tâm công nghiệp, các điểm dân cư kiểu đô thị cũng dần được hình thành và phát triển. * Việc phát triển mạng lưới của đô thị đã có ảnh hưởng đến sự phát triển của nông thôn và toàn bộ xã hội. Song do đặc điểm của cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước cho nên các thành phố ở miền Bắc là quá trình “giải đô thị” sơ tán người và các cơ sở về nông thôn để giảm thiệt hại do cuộc phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. * Chính vì vậy, các đô thị ở miền Bắc thời kỳ n ày có quy mô nhỏ gọn để thực hiện hai chức năng vừa sản xuất vừa chiến đấu. Mỗi th ành phố là một pháo đài (50 thành phố là 50 pháo đài). Tại Miền Nam: * Do chính sách khủng bố và bom đạn của Mỹ - Nguỵ, đặc biệt là chiến dịch “bình định nông thôn”, “tát nước bắt cá” của chúng cho nên ở nông thôn đã xảy ra tình trạng di dân bắt buộc vào thành phố. * Chính vì vậy, ở miền Nam đã xảy ra quá trình đô thị hoá cưỡng bức, hàng triệu người dồn về các đô thị như Sài Gòn, Đà Nẵng, Cần Thơ làm cho dân số tăng lên gấp hai đến ba lần khiến cho các thành phố quá tải (từ tỷ lệ dân thành thị là 15% đã tăng lên đến 60% năm 1970 với mật độ dân số là 34.000 người/km2). 2.1.4. Thời kỳ 1975 đến nay: + Thời kỳ này quá trình đô thị hoá đã lấy lại nhịp độ phát triển bình thường trong điều kiện hoà bình. + Để khôi phục lại đô thị trong điều kiện ho à bình nhiều thành phốmới ra đời, nhiều điểm dân cư của nông thôn trước đây như các thị trấn, thị tứ thì nay đã trở thành các điểm dân cư đô thị. + Mạng lưới đô thị của cả nước có khoảng hơn 500 thành phố, thị xã, thị trấn. Nhìn chung, các đô thị của Việt Nam từ khi cả nước thống nhất đến nay đã có nhiều thay đổi. + Quá trình đô thị hoá đã được tiến hành nhanh hơn, cao hơn tạo ra những chuyển biến hết sức căn bản, đặc biệt l à từ năm 1988 trở lại đây và đồng thời mang một số đặc điểm sau đây: * Chức năng của các thành phố về cơ bản vẫn như cũ và phát triển thêm một số chức năng mới như: du lịch, sản xuất, dịch vụ. * Quy mô kiến trúc đa dạng phong phú. * Chức năng vị trí nhà ở thay đổi. * Đời sống xã hội ngày càng được nâng cao hơn. Ngày nay do chính sách kinh tế mở cửa, sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống đô thị, tạo nên những biến đổi quan trọng trong cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động - nghề nghiệp, trong mẫu hình lối sống đô thị. Những thay đổi trên đã và đang đặt ra cho các nhà quản lý đô thị và các nhà xã hội học đô thị những câu hỏi cần phải nghi ên cứu như vấn đề kiến trúc đô thị, vấn đề quy hoạch giao thông đô thị, vấn đề nhịp sống đô thị, vấn đề môi trường đô thị, vấn đề dân số đô thị… 2.2. Đời sống đô thị ở Việt Nam hiện nay Những đặc điểm đời sống đô thị hiện nay: 2.2.1. Sự biến đổi của cơ cấu xã hội dân cư đô thị: + Từ các đô thị trong thời kỳ bao cấp tr ước đây, thành phố của cán bộ công nhân viên chức nhà nước (viết tắt là cán bộ) với các nghề nghiệp khác nhau có mức sống bình quân theo tem phiếu (quy định) nay chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần (gọi tắt là kinh tế thị trường), đã làm biến đổi các nhóm xã hội nghề nghiệp. + Tỷ lệ dân cư làm việc trong các khu vực ngoài quốc doanh ngày càng nhiều. Số này phần đông là chuyển từ các thành phần kinh tế quốc doanh sang, lực lượng lao động từ thành phần kinh tế tập thể (các hợp tác xã) cũng lần lượt chuyển thành thị dân do sự giải thể các hợp tác x ã. + Ngoài ra cơ chế thị trường và quá trình tư nhân hoá đã làm gia tăng khu vực kinh tế thứ ba đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ, lao động dư thừa và thất nghiệp ngày càng nhiều, số cư dân (trôi nổi) từ nông thôn ra làm ăn ở thị thị… ngày càng tăng. 2.2.2. Sự phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội trong dân cư đô thị: + Do sự tác động trực tiếp của việc cải cách kinh tế đ ã tạo ra sự phân tầng xã hội và phân hoá giàu nghèo trong dân cư đô thị, cụ thể là, ở các đô thị lớn, một bộ phận dân cư có được những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi nên đã có thể ổn định nhanh cuộc sống gia đình và ngày càng gia tăng mức sống. + Trong khi đó, một bộ phận khác trong xã hội không những không đủ điều kiện để khai thác các vận hội, cơ may trong cơ chế mới mà còn bị những điều kiện mới (do sự chuyển đổi cơ chế) làm cho cảnh sống của họ ngày càng sa sút, điều đó đã tạo ra một sự phân hoá giàu nghèo trong cư dân đô thị và khoảng cách ngày càng gia tăng. + Tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Biên Hoà, Nha Trang do tính phức tạp và năng động của đời sống đô thị, do tính đa dạng trong c ơ cấu nghề nghiệp của dân cư, vấn đề phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo càng nổi lên mạnh mẽ. + Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống x ã hội cũng như đến cơ may cuộc đời mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội. + Trong kinh tế, phân tầng xã hội được thể hiện ở sự chênh lệch về thu nhập và thù lao; trong lĩnh vực giáo dục là tình trạng thất học, bỏ học của số đông con em các gia đ ình nghèo; trong lĩnh vực dịch vụ xã hội là việc chi phí cho khám chữa bệnh, an ninh, nhà ở không phải ai cũng đủ tiền chi trả… 2.2.3. Sự chuyển đổi các định hướng giá trị của các nhóm trong xã hội: + Sự phân hoá xã hội như trên đã kéo theo sự chuyển đổi các định hướng giá trị trong đời sống đô thị hiện nay, b iểu hiện của nó là trước đây, các giá trị của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và của dân tộc thường được đề cao. + Nó chi phối, chỉ đạo các khuôn mẫu ứng xử của mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội trong cộng đồng như đạo đức, nề nếp, gia phong trong gia đình, ngoài họ tộc, đạo đức xã hội cũng được tôn trọng và được coi là những giá trị thiêng liêng. + Còn ngày nay, thay vào đó là các lợi ích cá nhân, lợi ích vật chất được phát huy một cách tuyệt đối trong c ơ chế thị trường. Nó đã lấn át các giá trị văn hoá, tinh thần đích thực của đời sống xã hội. 2.2.4. Sự thay đổi chức năng, vai trò trong guồng máy điều hành và quy luật đô thị: + Yếu tố này cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến lối sống đô thị. + Các biến đổi này chủ yếu tập trung vào các hệ thống pháp chế như: • Hệ thống giáo dục đô thị; • Hệ thống y tế; • Hệ thống an sinh xã hội, đảm bảo xã hội; • Hệ thống pháp luật để nhằm đảm bảo trật tự xã hội đô thị lành mạnh. 2.2.5 Dân số đông, mật độ cư trú cao và sự hỗn tạp về mặt xã hội phức tạp và đa dạng: + Nguyên nhân là do nguồn gốc cư trú và các dòng nhập cư thường xuyên hoặc di cư con lắc từ nông thôn vào thành thị ngày càng nhiều đã gây ra sự bùng nổ dân số dẫn đến tình trạng thiếu nhà ở. + Đây cũng là vấn đề quan trọng trong đời sống đô thị hiện nay. Tóm lại: Đời sống xã hội của các đô thị Việt Nam hiện nay và các vấn đề phát triển đô thị đang là một bức khảm sặc sỡ màu sắc của các vấn đề kinh tế xã hội đan xen nhau. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu khảo sát về kinh tế kỹ thuật và xã hội ở đô thị, sẽ giúp cho các giới hữu trách nhận diện đầy đủ và toàn diện hơn về đô thị Việt Nam hiện nay để kịp thời vạch ra những đối sách giải pháp, chiến l ược phát triển đô thị thành công trong tương lai. 2.3. Vấn đề quản lý và phát triển đô thị ở Việt Nam hiện nay Hiện nay nước ta có khoảng 76 đô thị loại 30.000 dân trở lên và khoảng 400 thị trấn nhỏ. Tổng số dân đô thị là khoảng 25 triệu người, chiếm trên 29% tổng số dân cả nước. Dự kiến đến năm 2010, dân số đô thị sẽ chiếm tới 35-48% trong đó khoảng 50-60% thuộc 3 thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh. 2.3.1. Hiện trạng môi trường đô thị Từ năm 1995 trở lại đây, các thành phố lớn như Hà nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm tra tình trạng môi trường các nhà máy, doanh nghiệp cũng như các khu dân cư và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Số liệu cụ thể như sau: 2.3.1.1. Hệ thống cấp nước đô thị Theo kết quả thống kê cho biết, khoảng 70% hệ thống cấp nước đô thị lấy từ nguồn nước mặt, 30% lấy từ nguồn nước ngầm. Hệ thống phân phối nước lại cũ kỹ, hư hỏng, rò rỉ làm thất thoát tới 30-40% lượng nước cung cấp. Như vậy lượng nước máy cung cấp đến người dân đô thị còn thấp (ở các thành phố loại I, tỉ lệ dân số được cung cấp nước máy chiếm 49,2%, ở thành phố loại II tỉ lệ này là 47,1%) . Còn lại phần lớn dân cư tự khoan giếng lấy nước sinh hoạt. Hiện nay, số lượng giếng khoan trên địa bàn các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là không thể kiểm soát nổi. Chính tình trạng khoan giếng một cách bừa bãi như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn nước mặt và nước ngầm gây ô nhiễm nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước đô thị. Để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước ở Hà Nội, người ta đã tiến hành phân tích hơn 660 mẫu nước lấy từ 106 giếng khoan cho kết quả là nhiều nơi thuộc khu vực nội thành Hà nội bị nhiễm bẩn NH4 ở mức độ mạnh và rất mạnh (khu vực Tương Mai, Lương Yên, Bách khoa, Ngô Sỹ Liên, đặc biệt là các khu Hạ Đình, Pháp Vân), một số khu vực còn bị nhiễm độc thạch tín. 2.3.1.2. Hệ thống thoát nước thải và vệ sinh môi trường Tại các khu đô thị, tình trạng sử dụng nhà vệ sinh không hợp tiêu chuẩn vẫn tồn tại (ở Hà Nội là các khu phố cổ, ở thành phố Hồ Chí Minh là các vùng kênh rạch ). Theo báo cáo chiến lược vệ sinh và thoát nước đô thị Quốc gia cho thấy, ở Hà Nội, số hộ gia đình không có nhà vệ sinh chiếm tới 43%, thành phố Hồ Chí Minh là 18%. Mặt khác, hệ thống cống thoát nước thải cũng không đúng tiêu chuẩn, không có bất kỳ một hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nước thải được đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung và đổ ra các ao hồ sông ngòi trong thành phố (ở Hà nội, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu là hai con sông được coi là bẩn nhất với hàm lượng các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép). 2.3.1.3. Hệ thống thoát nước mưa và tình trạng úng lụt Hệ thống thoát nước mưa ở hầu hết các khu đô thị đều rất kém. Ở Hà nội chỉ cần một trận mưa khoảng 50mm/h sẽ làm cho khoảng 42 điểm trong nội thành bị ngập nước, đặc biệt là khu vực đường Tôn Đức Thắng, Nguyễn Thái Học… Nguyên nhân chính của tình trạng úng lụt là do các đường ống thoát nước có đường kính nhỏ, không kịp thoát nước, thêm vào đó là các sông ngòi, ao hồ thoát nước đều bị bồi lấp, tồn tại nhiều lòng chảo trong phạm vi thành phố và do mặt bằng đô thị Hà Nội lại thấp hơn so với mực nước sông Hồng. 2.3.1.4. Hệ thống xử lý chất thải rắn và tình trạng ô nhiễm đất Kể từ năm 1997, Nhà nước đã có nhiều văn bản về quản lý chất thải rắn ở các khu đô thị và khu công nghiệp nhưng vấn đề này vẫn tồn tại nhiều bức xúc. Trong năm 2000, tổng lượng rác thải đô thị ước tính khoảng 18 nghìn m3/ngày (82% là rác thải sinh hoạt) nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 45-55%. Hiện nay ở các thành phố lớn chưa có biện pháp xử lý rác thải đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã có xưởng xử lý rác thải hữu cơ nhưng công suất thấp (chỉ bằng 1% lượng rác thải trong thành phố). Rác thải bệnh viện đang là một vấn đề gây rất nhiều sự chú ý của người dân. Các bệnh viện hầu hết chưa có lò đốt rác hợp vệ sinh. Không những thế khu vực đặt lò đốt rác lại sát ngay khu dân cư, khi đốt dân cư xung quanh sẽ hít phải những mùi rất khó chịu và rất độc hại. Đó là chưa kể đến tình trạng rác thải bệnh viện không được phân loại mà đổ chung với rác thải thông thường không qua xử lý. Đây là nguy cơ lây lan các căn bệnh truyền nhiễm. Gần đây, ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội nhiều bệnh viện đã có lò đốt rác thải hợp tiêu chuẩn vệ sinh y tế nhưng vẫn chưa xử lý hết được lượng chất thải bệnh viện. Ngoài ra ở một số bệnh viện nhỏ do kinh phí còn hạn hẹp nên không có lò đốt rác hoặc nếu có thì cũng không thể đưa vào hoạt động. Phương pháp xử lý rác phổ biến hiện nay ở các đô thị là chôn ủ tại các bãi rác tập trung. Nhưng hiện nay chưa có bãi rác nào được coi là đảm bảo được vệ sinh môi trường, từ đó gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí khu vực lân cận. 2.3.1.5. Hệ thống giao thông và tình trạng ô nhiễm không khí Theo số liệu thống kê của sở giao thông Hà Nội, lưu lượng xe ô tô trên các trục đường chính đạt khoảng 3000 - 7000 xe/giờ. Tỉ lệ xe máy, ôtô tăng nhanh, ước khoảng từ 17-20% mỗi năm. Các loại xe phần lớn là cũ kỹ lạc hậu, hệ thống đường lại trong tình trạng quá tải hoặc thiếu sửa chữa, bảo dưỡng, xe thô sơ đi lẫn với xe cơ giới nên các xe phải thường xuyên thay đổi tốc độ, khí thải xả ra nhiều và gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng. + Ô nhiễm bụi: Hà Nội khoảng 1,2mg/m3, gấp 3 – 4 lần tiêu chuẩn cho phép; Hải Phòng khoảng 1,8mg/m3; thành phố Hồ Chí Minh khoảng1,6mg/m3. +Tiếng ồn: ở Hà Nội, đo lường trên một số trục đường chính cho thấy mức ồn giao thông trung bình trong cả ngày khoảng 75-79 dB; Hải Phòng là khoảng 73-74 dB. 2.3.1.6. Một số vấn đề khác - Bộ phận cung cấp kinh tế (vấn đề cung cầu, cun g cho các đô thị, cầu tại các đô thị). - Vấn đề nhà ở: + Xây dựng các khu chung cư ở các đô thị với những căn hộ hiện đại thì ai sẽ là người ở. + Và phải có các thiết chế nào để đáp ứng chức năng về nhà ở như cơ quan, bộ phận bán đất, bán nhà. Biết bao vấn đề tiêu cực nảy sinh trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, về quản lý và phát triển đô thị hiện nay xin gợi mở một số vấn đề cơ bản mang tính chiến lược phục vụ trực tiếp cho việc quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị của Việt nam. - Tập trung định hướng chiến lược phát triển về không gian đô thị trong mối quan hệ kinh tế - xã hội và môi trường. - Quy hoạch cơ sở hạ tầng (đường sá, nhà cửa, các công trình công cộng) theo quy mô phát triển của nó trên nguyên tắc bảo đảm không gian, và kiến trúc văn hoá - xã hội truyền thống. - Duy trì hoặc đổi mới các chức năng thiết chế xã hội cho phù hợp với điều kiện đô thị công nghiệp, trung tâm chính trị v à văn hoá như giáo dục, hệ thống an sinh xã hội, hệ thống pháp luật… để đảm bảo trật tự xã hội đô thị lành mạnh. - Chú ý các chính sách xã hội về phúc lợi (nhà cửa, trường học, phương tiện đi lại, thuốc men y tế) cho các tầng lớp nhân dân đô thị, đặc biệt là các đối tượng ưu tiên, người có công với cách mạng, trẻ em, người già cô đơn, bệnh tật nghèo khổ, người vô gia cư và các đối tượng yếu thế khác. 2.4. Một số giải pháp cho các vấn đề đô thị hiện nay 2.4.1. Biện pháp chống tiếng ồn Trồng cây xanh ngăn cách giữa khu dân cư với các khu công nghiệp, đường giao thông làm giảm cường độ âm thanh khi lan truyền trong không khí khoảng 15-18dB. 2.4.2. Biện pháp điều chỉnh giao thông - Cải thiện vận tải công cộng như cấu tạo tuyến đường hiệu quả hơn, giá vé thấp hơn, thông tin tốt hơn, dịch vụ phục vụ thường xuyên hơn … Đây là biện pháp cần có sự hỗ trợ tích cực và bù lỗ của chính phủ để đạt được lợi ích lâu dài, làm cho vận tải công cộng trở nên hấp dẫn và thuận tiện hơn cho người dân, giảm tình trạng ách tắc giao thông do lưu lượng xe lưu thông trên đường quá lớn. - Đặt ít bãi đỗ xe trong thành phố hoặc đánh thuế cao trên các bãi đỗ tự do ở các nơi làm việc, tăng lệ phí đỗ xe. Tuy nhiên với Việt Nam, một nước có mật độ giao thông bằng ô tô còn thấp thì biện pháp này hiện nay chưa thích hợp nếu áp dụng quá cứng nhắc. - Xây dựng lại các phố, xây đường dành riêng cho người đi xe đạp, tách biệt hẳn với đường dành cho động cơ. 2.4.3. Biện pháp giải quyết rác thải - Cần tìm các nguồn kinh phí đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý rác. - Tiến hành thu gom, phân loại rác ngay từ nguồn tạo chất thải để tái sử dụng. - Nhà nước cần đầu tư trang thiết bị cho việc vận chuyển thu gom rác thải bởi thực tế cho thấy việc thu gom vận chuyển rác chi phí tới 70-80% tổng chi phí dành cho quản lý kiểm soát chất thải rắn ở đô thị. - Đối với các nhà máy, nhà nước có thể áp dụng biện pháp quy định mức chuẩn thải và phí xả thải đối với lượng chất thải mà hãng xả ra, yêu cầu các hãng phải lắp đặt các hệ thống xử lý chất thải trước khi đổ ra hệ thống thoát nước thành phố, hệ thống lọc bụi và hấp thụ khí độc hại. - Kiên quyết di chuyển một số nhà máy xí nghiệp lớn ở nội thành ra khu công nghiệp ở ngoại thành - Cần phải quan tâm bảo vệ môi trường nước mặt và nước ngầm, xây dựng các nhà máy xử lý rác độc hại, đảm bảo các bãi đổ rác, ủ rác đúng tiêu chuẩn kỹ thuật 2.5. Thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề xã hội hóa đô thị Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. Trên cơ sở diện tích nội thành hiện có, thì thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất Việt Nam (lớn hơn cả thủ đô Hà Nội). Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam. 2.5.1. Dân số Dân số năm 1929 là 123.890 người trong số đó có 12.100 người Pháp. Kể từ sau 1975, dân số Sài Gòn gia tăng nhanh, nhất là dân cư trú lậu không kiểm soát được, nên nhà cửa xây cất bừa bãi. Theo thống kê chính thức, dân số Sài Gòn năm 1975 là 3.498.120 người. Tính đến năm 2012, dân số toàn thành phố Hồ Chí Minh đạt gần 7.750.900 người, với diện tích 2095,6 km2, mật độ dân số đạt 3699 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 6.433.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.317.700 người. Dân số nam đạt 3.585.000 người, trong khi đó nữ đạt 3.936.100 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 7,4 %. Trong các thập niên gần đây, Thành phố Hồ Chí Minh luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư từ các tỉnh khác vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn có số nữ nhiều hơn số nam. Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều. Trong khi một số quận như 4, 5,10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5%. Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống. Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2010, con số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu. Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn thành phố có 13 Tôn giáo khác nhau đạt 1.983.048 người, nhiều nhất là Phật giáo có 1.164.930 người, tiếp theo là Công Giáo đạt 745.283 người, đạo Cao Đài chiếm 31.633 người, Đạo Tin lành có 27.016 người, Hồi Giáo chiếm 6.580 người, Phật Giáo Hòa Hảo đạt 4.894 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.387 người. Còn lại các tôn giáo khác như Ấn giáo có 395 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 298 người, Minh Sư Đạo có 283 người, đạo Bahá'í có 192 người, Bửu Sơn Kỳ Hương 89 người và 67 người theo Minh Lý Đạo. Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn Thành phố Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó, nhiều nhất là người Kinh có 6.699.124 người, các dân tộc khác như người Hoa có 414.045 người, người Khmer có 24.268 người, người Chăm 7.819 người, người Tày có 4.514 người, người Mường 3.462 người, ít nhất là người La Hủ chỉ có 1 người 2.5.2. Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng thêm một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe. Các tệ nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường... gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn... hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp... đều xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là 71,19, con số ở nữ giới là 75,00. Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 21.780 nhân viên y tế, trong đó có 3.399 bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ đạt 5.45 trên 10 nghìn dân, giảm so với con số 7.31 của năm 2002. Toàn thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh. Thế nhưng mạng lưới bệnh viện chưa được phân bổ hợp lý, tập trung chủ yếu trong nội ô. Theo con số năm 1994, chỉ riêng Quận 5 có tới 13 bệnh viện với 5.290 giường, chiếm 37% số giường bệnh toàn thành phố. Bù lại, hệ thống y tế cộng đồng tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã, phường đều có trạm y tế. Bên cạnh hệ thống nhà nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở y tế tư nhân và 1.472 cơ sở dược tư nhân, góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện lớn. Cũng tương tự hệ thống y tế nhà nước, các cơ sở này tập trung chủ yếu trong nội ô và việc đảm bảo các nguyên tắc chuyên môn chưa được chặt chẽ. Sở Y tế thành phố hiện nay quản lý 8 bệnh viện đa khoa và 20 bệnh viện chuyên khoa. Nhiều bệnh viện của thành phố đã liên doanh với nước ngoài để tăng chất lượng phục vụ. 2.5.3. Giáo dục Về mặt hành chính, Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non tới phổ thông. Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Trong năm học 2008–2009, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục mầm non, 467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III. Ngoài ra, theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục. Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố. Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Các trường ngoại ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư. Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập (Trường đại học Sài Gòn và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với 6 trường đại học thành viên. Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Kinh tế... đều là các đại học quan trọng của Việt Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia. Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Trình độ dân trí chưa cao và chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô. Tỷ lệ trẻ em người Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều, gấp 13 lần trẻ em người Kinh. Giáo dục đào tạo vẫn chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội. Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục thành phố còn kém. Nhiều trường học sinh phải học ba ca. Thu nhập của giáo viên chưa cao, đặc biệt ở các huyện ngoại thành. 2.5.4. Kinh tế Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính... Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%. Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND. Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007. Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành. Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza... Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng. Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp... cũng gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn. 2.5.5. Giao thông vận tải Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi, Bình Phước... Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò phục vụ giao thông hành khách. Cảng Sài Gòn là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển cả nước. Cảng Bến Nghé nằm phía hạ lưu sông Sài Gòn, rộng 32 ha, tổng chiều dài cầu cảng 528 m, có thể cho tàu có tải trọng từ 15.000 - 20.000 tấn cập bến. Tuy năng lực của các cảng của Thành phố Hồ Chí Minh lớn nhưng việc chuyển tiếp giữa giao thông đường bộ, đường biển và đường sông gặp khó khăn. Tại hầu hết các cảng đường sông, do thiết bị thiếu, vẫn phải bốc dỡ thủ công. Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống đường xá nhỏ... khiến thành phố luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc. Thành phố có 239 cây cầu nhưng phần lớn chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn cho các phương tiện giao thông. Không những thế, một phần các cây cầu có trọng tải thấp hay đang trong tình trạng xuống cấp. Tại các huyện ngoại thành, hệ thống đường vẫn phần nhiều là đường đất đá. Trong khi đó, hệ thống đường trải nhựa còn lại cũng trở nên quá tải, cần sửa chữa. Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đang đầu tư cho hệ thống giao thông công cộng. Hiện nay thành phố có 3.250 xe buýt và 8.000 xe taxi, mỗi năm chỉ đáp ứng khoảng 6,2% nhu cầu đi lại. Hệ thống xe buýt chưa đem lại hiệu quả cao, 65% tuyến trùng lặp. Cùng mạng lưới xe buýt, dự án tàu điện ngầm Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đang tiến hành. Theo dự kiến, thành phố sẽ có bốn tuyến, tổng chiều dài 54 km, 6 đường rày và 22 nhà ga. Cuối 2010, hai tuyến đầu tiên sẽ đi vào hoạt động. 2.5.6. Quy hoạch và kết cấu đô thị Theo thiết kế đô thị ban đầu của người Pháp vào năm 1860, thành phố Sài Gòn sẽ là nơi sinh sống cho 500.000 dân. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng qui mô của thành phố lên đến 3 triệu dân. Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kể cả số lượng khách vãng lai là 10 triệu người, kết cấu đô thị đã quá tải. Sài Gòn từng là thành phố của cây xanh với không gian kiến trúc theo quy hoạch của Pháp trước đây đã thay đổi với việc thu hẹp không gian xanh để xây dựng nhà cửa, không gian kiến trúc thành phố này trở nên chật chội với nhiều công trình xây dựng hỗn độn thiếu tính thống nhất. Công tác quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém. Đến thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ có 23% khối lượng công tác quy hoạch 1/2000 được thực hiện. Quy hoạch cho hệ thống công trình ngầm vẫn chưa được thực hiện xong. Công tác xây quy họach và xây dựng đô thị mới vẫn mang nặng tư duy thời kỳ bao cấp. Trong 10 năm gần đây, khu vực đô thị mới để lại dấu ấn lớn trong quá trình phát triển thành phố này là khu đô thị Phú Mỹ Hưng do nước ngoài đầu tư xây dựng, không phải là những quận, huyện được chính quyền địa phương thành lập. Quy hoạch thành phố Hồ Chí Minh tính tới thời điểm 2010 có khoảng trên dưới 600 dự án quy hoạch tại 13 quận huyện. Chiến lược quy hoạch của Thành phố hiện nay là tránh dồn ứ dân cư về nội thành, đồng thời phát triển một số khu đô thị mới góp phần làm giảm mật độ dân số vốn đã quá cao như hiện nay. 2.5.7. Trung tâm văn hóa, giải trí, thể dục và thể thao Với vai trò một trung tâm văn hóa của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 22 đơn vị nghệ thuật, 9 rạp hát, 11 bảo tàng, 22 rạp chiếu phim, 25 thư viện. Hoạt động của ngành giải trí ở Thành phố Hồ Chí Minh nhộn nhịp hơn bất cứ thành phố nào ở Việt Nam. Hầu hết các hãng phim tư nhân lớn của Việt Nam hiện nay, như Phước Sang, Thiên Ngân, HKFilm, Việt Phim... đều có trụ sở chính ở Thành phố Hồ Chí Minh. Doanh thu các rạp của thành phố chiếm khoảng 60-70% doanh thu chiếu phim của cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh cũng sở hữu những sân khấu đa dạng. Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ tại Quận 3 với những vở kịch thử nghiệm, những vở thư giãn ở Sân khấu Hài 135 Quận 1, Sân khấu kịch IDECAF với những vở lấy từ tuồng tích cổ hoặc tái hiện các danh tác trên thế giới. Lĩnh vực ca nhạc, Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường sôi động nhất, điểm đến của phần lớn các ca sĩ nổi tiếng. Ngoài những sân khấu lớn như Nhà hát Thành phố, Nhà hát Bến Thành, Nhà hát Hòa Bình, Sân khấu Trống Đồng... hoạt động âm nhạc hoạt động âm nhạc ở thành phố ở những phòng trà, quán cà phê đa dạng: Tiếng Tơ Đồng, M&T, Catinat, ATB, Bodega, Carmen... Thành phố Hồ Chí Minh cũng có những câu lạc bộ thể thao giàu thành tích. Môn bóng đá, Câu lạc Thép Miền Nam - Cảng Sài Gòn, có sân nhà là sân Thống Nhất, từng 4 lần vô định V League. Đội Công an Thành phố cũng từng một lần vô địch vào năm 1995. Các bộ môn thể thao khác có thể kể đến Câu lạc bộ Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh môn bóng chuyền, các câu lạc bộ bóng rổ, cờ, điền kinh, bóng bàn... của thành phố. Kết luận Xã hội học đô thị và các mô hình kinh tế ngày càng phục thuộc nhiều vào các mô hình xã hội của cuộc sống đô thị. Việc mở rộng, quy hoạch, xây dựng ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân đô thị trong các lĩnh vực lao động sản xuất, sinh hoạt – vui chơi, giải trí…của người dân. Đô thị Việt Nam hình thành cùng với sự phát triển của các trung tâm buôn bán, trên cơ sở các trung tâm hành chính, và trong quá trình phát triển công nghiệp (VD: Việt Trì, Thái Nguyên,...) Xu hướng hiện đại, đô thị của Việt Nam sẽ hình thành trên cơ sở CN hóa, hiện đại hóa. Nơi nào có khu công nghiệp thì ở đó có các đô thị. Quá trình hình thành đô thị ở Việt Nam dẫn tới biểu hiện của các hiên tượng khác nhau. Đô thị gắn với khu công nghiệp, hiện tượng gắn với việc làm và lao động, đô thị là thủ phủ hành chính gắn với các viên chức nhà nước. Chính vì thế, nếu hiểu được bản chất, tiến trình của xã hội học đô thị sẽ giúp cho các nhà Lãnh đạo, chức trách có những hoạch định, chính sách phát triển đúng đắn. Qua bộ môn Xã hội học, nhóm đã có những kiến thức khái quát về vấn đề xã hội học đô thị nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Mặc dù, nhóm đã có những cố gắng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu, song không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của quý Thầy cô để nhóm hoàn thành bài tiểu luận tốt hơn nữa. Tài liệu tham khảo - Tài liệu Sách, báo 1. Bộ GĐ& ĐT,Giáo trình Xã hội học đại cương, NXB Thế Giới, 2010 2. Trịnh Duy Luân, Tìm hiểu môn xã hội học đô thị, NXB Khoa học và xã hội, 1996. 3. Nguyễn Khắc Viện, Từ điển xã hội học, Hà Nội, 1994 4. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 5. DCSVN, Nghị quyết Đại hội lần thứ 8 Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Sự thật, 1996 - Tài liệu tham khảo mạng 1. http://vienthongke.vn/thong-tin-khoa-hoc/chuyen-san/188-nam-2001-cs-45-nam-thanh-lap-khoa-thong-ke-dh-ktqd/1175-mot-so-van-de-ve-moi-truong-do-thi-o-viet-nam (Truy cập lúc 20h30 ngày 20/04/2014) 2.http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh (Truy cập lúc 22h ngày 20/04/2014)

Thể loại:

Ngành KHXH & Nhân văn -

 Xã hội học


Tag: xã hội hóa đô thị - đô thị hóa - xã hội học - tiểu luận xã hội hóa
DOC     30     Đỗ Văn Thực     03/05/2014     15.180     495

Đánh giá của bạn ( 8 điểm/3 lượt )
 
(Nếu không download được, vui lòng click vào đây để xem hướng dẫn)
Trình duyệt firefox:
Bước 1: Hiện thông báo như hình dưới:

Bước 2: Chọn Options->Allow pop-ups for tailieuhoctap.vn(Vùng khoanh đỏ)
Trình duyệt chrome:
Bước 1:Hiện thông báo như hình dưới:(Vùng mũi tên đỏ)

Bước 2:Chọn vùng mũi tên màu đỏ -> Hoàn tât
Trình duyệt IE 10:
Bước 1:Hiện thông báo như hình dưới:

Bước 2:
Chọn Options->Allow once(Vùng khoanh đỏ)
Trình duyệt IE 8:
Bước 1:Hiện thông báo như hình dưới:

Bước 2:
Chọn Options->Allow once(Vùng khoanh đỏ)
Tiểu luận xã hội học về Xã hội hóa đô thịTiểu luận xã hội học về Xã hội hóa đô thịTiểu luận xã hội học về Xã hội hóa đô thịTiểu luận xã hội học về Xã hội hóa đô thịTiểu luận xã hội học về Xã hội hóa đô thị
Tải về để xem đầy đủ hơn

Có liên quanCùng thể loại